Tri tuệ nhũn tạo là gì?-Tải Iwin

Tải Iwin-Trí tuệ nhân tạo là một, Tiọc thuyết tỉm cách để máy tính có được trí tuộ của một phần não người. Thồng qua việc nghiên cứu của ngành khoa học này, khiến cho máy tính có được năng lực suy nghĩ, suy luận
Máy tính có năng lực phán đoán logic cực nhanh và lượng ghi nhớ to lớn. Cùng vối sự phát triển của tai iwin mồn trỉ tuệ nhân tạo này, còn phải làm cho máy tính có tai iwin được năng lực học tập gần với não người, khiến nó có thể ghi nhớ những bài học, tránh được các sai lầm lặp lại, từ đó mà có thể hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ mà con người giao cho, và phát huy hết chức nãng thần kỳ của nđ. Sau khi máy tính có được loại trí tuệ nào đó về một phương diện nào đó, con người vẫn cố gắng khiến nó có được các trí tuệ khác về các phương diện khác, trí tuệ nhân tạo là một ngành không ngừng phát triển.
Đối với người máy có lắp máy tính trí tuệ hóa, sau khi đưa vào máy tính đó eác thông tin như: đặc trưng của cạnh, góc và bề mặt của một cái hộp, và mối liên hệ với nhau như thế nào giữa bề mặt và lập thể, thì người máy có thể nhận biết, phân biệt được chiếc hộp nàv trong một số hỉnh vẽ lập thể.
Chỉ cần dạy cho máy tính bản lỉnh đành cờ của cảc kv thủ, máy tính sẽ có thể đánh cờ vởi người, mà tài đánh

Máy tính tri tuệ có thể điều khiển hình dạng hình học của chi tiết
cờ còn cao siêu. Nhưng do mảy tính không nghỉ sâu sắc như người, lại không cố tài xuất kỉ bất n vì thế luôn luôn thua nhiều được ít. Điều đó nối rõ máy tính chỉ C(S một phàn chức năng cùa não người, còn rất nhiều chức năng của não người máy tính vẫn chưa cố. Ví dụ máy tính sẽ khỏng thể tư duy biện chứng như người. Nhưng do tốc độ tính toán của máy tính nhanh, lượng lưu trữ thông tin lớn, và không hề quên, vỉ thế trong khi giài quyết vấn đề phức tạp thì đã thể hiện rõ tính ưu việt của nđ. Một số chức năng của máy tính mà não người lại không cổ, chính vì vây con người đối với việc khai thác trí tuệ cùa máy tính đã sản sinh hứng thú vô bờ.
Máy tính trí tuệ cổ thể điều khiển hình dạng hình học của chi tiết. Làm thế nào để máy tính có trí tuệ đây? vấn đề này chính là đề tài nghiên cứu của ngành trí tuộ nhàn tạo.
Nội dung nghiên cứu của ngành bao gồm xử lý ngôn
ngư lự ohién, nhàn biết iụjữ ám và xử ly hình ảnh, lưu trữ vồ xuiU nhập thòng tin, người mảy trí tụệ, tự dộng tập trinh cùá máy tinh, phiôn dịch cửa may tính, dùng mav rinh <tế chứng minh định lv toán học và hệ thống chuyên gia, … trong đó đáng chú ỷ nhát là xử lý ngón ngừ tự nhiên và hệ thống chuyên gia, Sự phát triển của ngành trí tuệ nhân tạo, co thể tích lũy kinh nghiệm và tri thức của cải tinh thần phong phú mà loài người sẵn cot sáng tao điều kiện để nâng cao tkêm một bước sức sản xuẫt
Mục đích nghiên cửu ngôn ngữ tự nhiên, là để co thể dùng ngôn ngữ của loài người (bao gồm ngữ âm và ván tự) đối thoại trực tiếp VỚI máy tính. Một khi nghiên cứu đạt đến trinh độ nhát định, những người sử dụng bỉnh thương không cần phái nghiền ngẫm ngôn ngữ lập trinh khồ khan vô vị các kiốư các loại, thì có thể để cho máy tinh nghe ổự điều khiển một cách thuận tiện, để cho bất kỳ một ngườỉ bình thường nào đều cđ thể dễ dàng thao táe máy tính*
Thồng qua việc khai phá đối với hệ thống chuyên gia, thì cổ thể tập trung học thức và kinh nghiệm của rất nhiẽu chuyên gia, biến chúng thành những thông tin cđ thể cung cấp cho mọi người sử dụng rộng rãi. Chỉ cần đưa vảo máy tính những í hông tin này, thì cũng như mọi ngưòi đả cđ sản khối trí thức hàng đầu này.

Tải Iwin
Hệ thống chuyên gia là một loại kho tri thức co trinh độ chuvên gia, là hệ thống máy tính dùng suy luận logic để giài quyết vấn đề thực tế, Do trong đđ đă thu iwin android thập được các hiểu biết ‘trác việt sâu xa của các chuyên gia, vỉ thế khi người sử dụng dùng bàn phím đưa vào iwin android các thông tin hữu quan, hệ thống chuyên gia sẽ căn cứ vào vấn đề nêu ra, cản cứ suy luậĩì logic chỉ ra con đường
hiíih *fU ^ phủ Ị* (4 híệtí /ỊÚêi ậậ- 0ỉịị tịityềto Y§ n
Ẫ Ỹầ fỆỆ ếỉ^ữ Ỷ kíứn tư *&n tỳậ íeh ‘ị
fỸr\Ưw ểấỹ tòi ứiítỉiíịỊ íặịệễ <-h nybn 0Ht ịfịặéí iịtíẠ mật
J t)ị ỵy ỉiM ịậâo đục Yấ htỉÃũ ỉuyệtíị eờn hệ tếSĩĩ’% ”ir tyặn
ị thi cổ ihề trong thỡí 0ftn ĩíịỊần mnỹỉ tỳắp CÁC vhuỷtrữ ựịít cồ tồi Khí một Ihitìt hf -mũi hiện mị ‘*/ỉ. mắy tífih *& wềềặ một ĩihh Ỵìịỷứ* kỹ thuật t.hânh thựcệ Ckn rứ vấợ kính riỊĩM^tn (được đtíĩi Víiũì tirn rtế (thính %hiĩ đíềítệ %iị cồ mb không căn tiến h/inh nhỉVíti tàn thátn do
0 Cềrỉg trinh kệ thỐHỆ iu thê nao?
Thời Tổng Chấn Tòng Trung Quốc, hohng cung ở ỉííện Kinh (nay là Khai Phong Há Nam/ hốc \il% cung điện hị chấy ẩạch tohn bù. Hoảng đẽ khí đó đa cử đại thần tán Ui Dinh Vị phu trách cổng trinh f*ửa chữa kbốỉ phục hokng cung, và định thơi #ÍHH hoán th&nh. Một cùng trinh như thế làm thế nào đế cd thế phục hối vừa nhanh vưa tốt đây? Dinh Vj cũng vớí các bạn đống ỉién nghiên cứu đi nghiên cứu lại, đă đè xuất một phương án thí công hoán chỉnh vừa đỡ tốn cổng lạí tiết kiệm vật liệu: Trước hếịf dào dầy phố trước mặt hoàng cuĩig thành một con sõng, dung đất đảo #dng đế nung gạch- Như vậy, đ/í gản ngay tại chỗ, lại gíảí quyết được vắn đẻ vật liệu của một bộ phận kiến tróc, Sau đ<í, cho Bông vữa mớí đào thống vớí nước Bồng Biện ngoài thảnh, hình thành luồng chạy thu yên, rồi đủng thuyèn chuyển đến cát sỏí, gỗ lạt vv. Vừa sử dụng được công cụ vận chuyển có hiệu qúa kính tế nhất đương thời, ỉạí iỉếi kiệm được rất nhíẽu sức người sức của,Cuối cùng, hoảng cung đã khỏi phục xong, thải hết nước trong ổông đào đí. vâ đúng vật phế thải khí xây cung diện, lắp Xĩióng ỹỗngt khối phục lại đường phố ẹp, Như vậy, vừa tận dụng được vật phế thải, lại giàm bớt
côĩìg vận chuyển*
Khi Đinh Vì tổ chức thi công công trình này, đà xem eảc công việc gia công, vận chuyến nguyên vật liệu, khôị phục hoàng cung,v.v. cổ ìiên quan mật thiết với nhau như một thể hoàn chỉnh ( hệ thống) để trù hoạch và sắp xếp, tim ra phương án tốt nhát, khiến cho việc khôi phục hoàng cung vừa nhanh, vừa tốt lại vừa rẻ. Loại kỹ thuật tổ chức quản Jv\ đùng quan điểm hệ thông, tìm phương án tổt nhát này, trên thực tế chính là công trỉnh hệ thổng.
Dinh Vị xây lại hoàng cung chi là tự phát sử dụng phương pháp và tư tưỏng của công trình hệ thống. Khi đđ còn chưa xuất hiện danh từ “công trình hệ thống” này, càng chưa thành lập ngành khoa học này, mãi đến năm 1940. PhòngThực nghiệm của Công ty Điện thoại Bell của Mỹ, khi nghiên cứu chế tạo mẩy tự động chuyển đổi điện thoạỉ, để rút ngắn thời gian khai phá đến lúc đưa vào sử đụng, họ đã ý thức được không thể chỉ chú ý nghiên cứu kỹ thuật của thiết bị máy điện thoại và đài chuyển đổi, càng càn phải nghiên cứu toàn bộ hệ thống cùa nổ; thế là họ đã theo thứ tự thời gian, phân công việc nghiên cứu thành nấm giai đoạn: quy hoạch, nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công trình và công trình thông dụng. Khi này, lần đầu tiên họ nêu lên cái tên “công trình hệ thống”, và thiết lập phòng nghiên cứu công trình hệ thống, đã sáng tạo một phương án công trình hệ thống phân giai đoạn.

Tải Iwin
Trài qua một thời kỳ phát triển, đến những nãm 70 của thế kỷ này, công trình hệ thống từ quản lý quv hoạch hệ thống độc lập phát triển đến giai đoạn giải quyết các hệ thống lớn phức tạp, công trinh hệ thống trở thành một ngành kỹ thuật quản lý tổ chức hiện đại. Ví dụ, n&m 1969 iwin java kế hoạch đổ bộ xuống Mật Tráng của phi thuyền vũ trụ
“Apollo” của Mỹ thành cồng, cống tác iwin java tổ chức quản lý của n<5 đã thể hiện thành tựu to lớn của công trinh hệ thống. Ị£ế hoạch “Apollo” là một kế hoạch công trình to iớn phức tạp cả thế giới chú ý, toàn bộ nhiệm vụ của nd phân biệt đo ba bộ phận mật đất, khỏng gian và đổ bộ xuống Mặt Trảng, hợp thành. Cả nước cố 42 vạn người, 120 sở nghiên cứu và trường đại học, hơn hai vạn xí nghiệp tham gia, chế tạo hơn 3 triệu chi tiết bộ kiện, tốn kém 24 tỷ USD, kéo dài đến 11 năm, một hạng mục phức tạp to lớn như vậy, chỉ dựa vào một vài người động nảo thỉ không được, cần phải làm cho hàng ngàn hàng vạn hạng mục công việc được tổ chức một cách lớp lang mạch lạc thành một hệ thống, sử dụng phương pháp công trình hệ thống hiện đại, thực hiện tổ chức quản lý khoa học, mới cố thể hoàn thành.
Công trình hệ thống là một phương pháp khoa học có ý nghĩa phổ biến, tổ chức quản lý các hạng mục của hệ thống: quy hoạch, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thực nghiệm và ứng dụng, theo quan điểm hệ thống. Lớn như cồng nghiệp, giáo dục, thương nghiệp, nhân khẩu, sinh thái V.V.; nhỏ như một hạng mục công trỉnh xây dựng cụ thể, quàn lý và nghiên cứu, đều cọ thể xem như công trình hệ thống để tổ chức tiến hành. Nối một cách đơn giản, xem một hạng mục hoạt động thực tiễn như một hệ thống, vận dụng phương pháp hệ thống để tiến hành tổ chức, đây chính là đã hình thành công trình hệ thống, vận dụng phương pháp của công trỉnh hệ thống, co thể trong thời gian ngán nhất, thu được hiệu qủa tốt nhất.

Post Comment